DUYHAI
30-03-2008, 09:24 PM
Bản chào ban đầu về dịch vụ và nới rộng các điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài.
Phiên đàm phán đa phương lần thứ 5 (tháng 4/2002) và thứ 6 (tháng 6/2003) được tiến hành với nội dung chính là mở cửa thị trường. Việt Nam đã cung cấp cho ban thư ký WTO những tài liệu có liên quan đến vấn đề mở cửa thị trường như:
+ Bản tóm tắt về hiện trạng chính sách kinh tế thương mại.
+ Chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp XK nông nghiệp.
+ Chính sách hỗ trợ SP công nghiệp.
+ Hiện trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
+ Chương trình hành động thực hiện TRIMS.
+ Thực hiện hiệp định trị giá hải quan.
Phiên đàm phán đa phương lần thứ 7 (tháng 2/2003) và lần thứ 8 (tháng 6/2004) chuyển sang giai đoạn bàn đến “Bản dự thảo báo cáo gia nhập WTO” của VN.
Tại phiên đàm phán thứ 8, VN đã cam kết tuân thủ các quy định, nghĩa vụ của WTO:
+ Trước hết là tuân thủ quy chế tối huệ quốc, thực hiện nghĩa vụ MFN đối với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.
+ Cam kết thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp, nhà đầu tư…trong và ngoài nước.
+ Bỏ trợ cấp XK đối với cà phê, hạ mức thuế quan chung tới mức các đối tác có thể chấp nhận được.
+ Phiên đàm phán thứ 11 ( 16/1/2006) VN đã cam kết “Mở cửa” đối với 10 ngành và 92 phân ngành dịch vụ (trên tổng số 150 phân ngành) theo phân loại của WTO; trong đó có các dịch vụ về ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, viễn thông, phân phối, vận tải biển… các cam kết này bằng cao hơn cam kết trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ.
+ Về chương trình hành động lập pháp: VN đã đưa ra danh mục sửa đổi, bổ sung và ban hành 36 văn bản, bao gồm luật và pháp lệnh có liên qua đến quá trình gia nhập WTO như luật thương mại, luật đầu tư chung, luật doanh nghiệp thống nhất…
Sau nhiều phiên đàm phán đa phương và song phương, ngày 15/9/2005 phiên đàm phán đa phương thứ 10 được thực hiện tại Genève (Thụy Sĩ). Đây là phiên đàm phán có tính chất quyết định đến việc gia nhập WTO của VN vì ta cam kết mở cửa 10 nhóm ngành dịch vụ và 92 dịch vụ cụ thể; đồng thời bản chào hàng hóa của VN đã đạt mức cam kết sửa đổi 99.3% số dòng thuế, bình quân mức thuế cam kết đạt dưới 18% (một số mặt hàng công nghiệp còn ở mức thấp hơn nữa); các loại phí và lệ phí đã gần như bằng 0…
Phiên đàm phán thứ 11 (Ngày 16 đến 17/1/2006): ngoài vấn đề giảm thuế đối với một số mặt hàng, nhiều thành viên của WTO yêu cầu chính phủ không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, các quyết định mua/bán và đầu tư của DNNN phải tuân theo yêu cầu thị trường. Danh mục nhà nước độc quyền phải được làm rõ và thu hẹp dần. Xóa bỏ các hỗ trợ tín dụng, trong đó có những khoản cho vay theo định hướng.
Nhìn chung trong tiến trình đàm phán để gia nhập WTO, VN đã đưa ra những cam kết dựa trên nguyên tắc bình đẳng, phú hợp với điều kiện phát triển của VN và thông lộ quốc tế (Theo quy định của WTO trong tiến trình theo đuổi mục đích tự do hóa thương mại, các cam kết cụ thể của các nước thành viên phải được đưa ra thực hiện dưới hình thức nhượng bộ về thuế quan). Vì thế lộ trình giảm thuế và rào cản phi thuế đã được VN cam kết và thực hiện tốt. Chẳng hạn:
+ Tại hội thảo “Hội nhập của các nước Đông dưong vào môi trường thương mại toàn cầu” ngày 7 – 8/10/1999 tổ chức ở TP.HCM VN đã đưa ra cam kết sẽ cắt giảm thuế quan theo lịch trình với các nước thành viên trên cơ sở có đi có lại.
+ Cam kết lấy thuế quan làm công cụ bảo hộ chủ yếu và chỉ bảo hộ đối với những mặt hàng nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến đời sóng kinh tế đất nước, dần dần áp dụng các biện pháp tính thuế hải quan phù hợp với qui định của WTO.
Mức thuế suất thuế NK tối đa từ 200% được hạ xuống còn 60% và từ 31 mức thuế quan giảm xuống còn 25 mức; bỏ áp dụng mức giá tối thiểu đối với tất cả dcác mặt hàng NK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…
Đến phiên đàm phán thứ 11 chúng ta đã cam kết ràng buộc mức trần cho gần như 100% dòng thuế. Nhìn chung các nước WTO đều cho rằng thuế suất trên 15% là cao và trên 30% là rất cao. Nhiều nước còn yêu cầu VN phải giảm thuế cho những mặt hàng mà họ có lợi thế đến mức còn 0-5%(có những mặt hàng rất nhạy cảm với VN như thịt bò chẳng hạn).
+ Đã xây dựng và điều chỉnh hệ thống thuế XNK và phân biệt rõ những mức thuế Ưu đãi, Ưu đãi đặc biệt và thuế phổ thông đối với hàng NK.
+ Xây dựng lộ trình cắt giảm các biện pháp phi thuế quan gây trở ngại cho thương mại.
Nới lỏng các biện pháp quản lý XNK (bỏ quản lý bằng giấy phép NK đối với hàng tiêu dùng, bỏ giấy phép NK chuyến, bỏ yêu cầu phải xin giấy phép XNK trực tiếp khi doanh nghiệp XK những mặt hàng phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đã trong giấy phép kinh doanh…)
Ngày 1/2/1999 VN đã loại bỏ thêm 9 nhóm mặt hàng ra khỏi danh mục Hàng NK quản lý bằng hạn ngạch NK gồm : xút lỏng, hàng tiêu dùng bằng sành sứ thuỷ tinh, bao bì nhựa thành phẩm, chất dẻo DOP, gạch ốp lát, đồ sứ vệ sinh, quạt điện, xe đạp và dầu thực vật.
+ Trong kế hoạch hội nhập vào nền kinh tế thế giới, VN sẽ đưa thêm 10 mặt hàng khác ra khỏi danh mục Hạn chế NK trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2007:
Phân bón thực hiện vào đầu năm 2001.
Kính xây dựng, rượu, ôtô, xe máy: được thực hiện vào đầu năm 2002.
Xi măng đươc thực hiện vào đầu năm 2003.
Xăng dầu thực thiện vào đầu năm 2005.
Đường ăn thực hiện vào đầu năm 2007
+ Thực hiện nới lỏng việc CP tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế như:
Phân bổ hạn ngạch NK phân bón , hạn ngạch XK gạo cho các doanh nghiệp trong và quốc doanh có đủ điều kiện.
Doanh nghiệp trong nước thành lập hợp pháp đều được phép XK hàng hoá phù hợp với lĩnh vực đã ghi trong Giấy phép kinh doanh.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép XK các mặt hàng nào không thuộc diện quản lý…
Hệ thống cấp giấy phép được đơn giản hoá, thay thế bằng yêu cấu đăng ký với hải quan tỉnh, TP để được cấp mã số đăng ký hải quan…
3. Những thuận lợi khi tham gia WTO :
Khi tham gia WTO, VN phải có nghĩa vụ tuân theo những qui định của tổ chức này, nhưng cũng sẽ có nhiều thuận lợi như :
- Có điều kiện đẩy mạnh thương mại với các nước thành viên vì WTO cũng có những ưu đãi riêng chi những nước đang phát triển. Chẳng hạn VN là một nước nghèo, có thu nhập bình quân đầu người thấp (dưới 1000USD/năm) sẽ được miễn trừ sự ngăn cấm XK.
- Có nhiều cơ hội mở rộng thị trường XK; chẳng hạn VN XK gạo (là mặt hàng XK chủ lực của VN ) sang thị trường các nước đang phát triển sẽ không chịu hạn chế về số lượng mà chỉ chịu hàng rào thuế; mà thuế sẽ được cắt giảm theo hiệp định của WTO.
- Nâng cao vị thế của VN, từ đó tạo sự hấp dẫn cho môi trường đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa.
- Tư cách thành viên WTO sẽ giúp cho các lĩnh vực có tiềm năng lớn của VN như hàng nông sản, dệt may vươn rộng tầm hoat động ra thị trường thế giới và khu vực.
- Cải thiện được hệ thống giải quyết tranh chấp với các cường quốc thương mại chính, vì các nước thành viên sẽ được tiếp cận với các quy tắc công bằng và sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi giải quyết các tranh chấp thương mại.
4. Những thách thức khi VN gia nhập WTO:
WTO quy định khi tham gia, nước thành viên phải có nghĩa vụ thực hiện những yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện mở cửa thị trường cho các nước thành viên WTO bằng cách giảm thuế nhập khầu cho cả hàng nông nghiệp và công nghiệp (điều này được coi như một cam kết ràng buộc).
- Phải mở cửa thị trường dịch vụ cho các nhà cung cấp nước ngoài như các dịch vụ về ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin, kỹ thuật…
Như vậy, những chủ tướng cấp đôvĩ mô phải được xác định sao cho phù hợp với tình hình thực tế của VN. Vì thế trước mắt phải hoàn thiện về cơ chế¬- chính sách ngoại thương vì hệ thống luật và cơ chế ngoại thương hiện chưa ổn định, có chỗ còn chưa rõ ràng.
Ngoài ra nhà hoạch định chính sách phải lượng hoá được lợi ích và thách thức khi tham gia vào WTO, vì WTO không bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ cam kết của WTO mà các quốc gia có thể chọn lựa, đàm phán…đề có những nhượng bộ chấp nhận được.
Trong quá trình thực hiện cam kết quốc tế và khu vực, VN đã xem xét và phân lộ trình hội ra thành 3 loại:
(1). Lộ trình ngắn, tích cực: bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan đồng thời qui đổi các mức thuế theo qui định thời gian khoảng 3-4 năm.
(2). Lộ trình trung bình: giảm hàng rào bảo hộ trong khoảng thời gian 6-7 năm, để các ngành chưa đủ sức mạnh cạnh tranh (nếu hội nhập trong thời gian ngắn có thể sẽ gây nên phản ứng xã hội lớn) vươn lên chiếm lĩnh thị trường.
(3). Lộ trình dài: giảm hàng rào bảo hộ áp dụng cho những lĩnh vực nhạy cảm khoảng 7-10 năm.
Ngoài ra các ngành kinh tế của VN còn được chia thành 3 nhóm để có chính sách bảo hộ hợp lý trong quá trình hội nhập:
Nhóm 1: Những ngành không cần phải bảo hộ, đó là những ngành đang có khả năng cạnh tranh cao hoặc không có khả năng cạnh tranh nhưng không quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, nếu bị phá sản cũng không gây ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội.
Nhóm 2: Hiện không co khả năng cạnh tranh, nhưng có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia. Các xí nghiệp thuộc những ngành này nếu bị giải thể hoặc phá sản do không đủ sức mạnh cạnh tranh sẽ gây xáo trộn trong hoạt động xã hội : cần phải được bảo hộ nhưng có điều kiện và có thời hạn nhất định.
Nhóm 3: Những ngành có tầm quan trọng thiết yếu với nền kinh tế quốc gia; các xí nghiệp thuộc những ngành náy nếu bị giải thể hoặc phá sản không đủ sức cạnh tranh sẽ gây nên ảnh hưởng to lớn cho xã hội sẽ phải được bảo hộ lâu dài, không thể mở cửa thị trường.
Khi gia nhập WTO VN phải chấp nhận những thách đố:
- Nhiều thành viên của tổ chức này đã đi trước VN 50 năm trên bước đường tự do hoá thương mại, do đó vị thế cạnh tranh của họ rất vững chắc.
Trong thời gian giảm thuế để tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, nhà nước vẫn thực hiện các chính sách bảo hộ cho các doanh nghiệp, nhưng có điều kiện và thời hạn. Vì vậy khi phải giảm thuế và áp dung chế độ MFN trong lúc hàng hoá của VN chưa đủ mạnh về chất lượng, sẽ khiến cho các nhà sản xuất VN phải chấp nhận rơi vào vòng cạnh tranh gay gắt hơn trong nền KT thị trường, trong khi hàng hoá chưa thực sự đứng vững trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến cảnh báo của ông Supachai (Tổng giám đốc của WTO): không phải tất cả các nước đang phát triển đều có thực hiện các điều khoản củathoả thuận thương mại với cùng một nhịp độ; mà một số nước không thể huỷ bỏ trợ giá hay tang chỉ tiêu NK đúng theo thời hạn qui định của thoả thuận.
Hội nghị Bộ trưởng KT các nước ASEAN ngày 1/5/2000 tại Myanmar đã quyết định thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan chung của ASEAN đối với các sản phẩm xe hơi của Malaysia đến đầu năm 2005. Đây là biện pháp nhằm giúp ngành này của Malaysia phục hồi và phát triển sau khủng hoảng, theo thoả thuận được ký kết giữa các bên; thuế đánh vào các sản phẩm ôtô của Malaysia NK vào các nước thành viên ASEAN sẽ giảm từ 80% xuống còn 20%.
Bản thân Malaysia cũng đề nghị được lùi thời hạn cat91 giảm thuế quan đối với ôtô và một số mặt hàng nông phẩm trong tiến trình hình thành AFTA đến tháng 1/2005 với lý do các ngành này chưa hồi phục sau cuộc khủng hoảng KT vừa qua. Tuy nhiên một số nhà phân tích KT cho rằng, đề nghị này xuất phát từ tư tưởng bảo hộ hãng Proton ( hãng sản xuất ôtô quốc doanh của Malaysia) trước sự cạnh tranh của các nước láng giềng , đặc biệt là của Thái Lan – nơi hội tụ các nhà sản xuất ôtô lớn nhất thế giới (như Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu).
Việc lùi thời hạn hội nhập 2 năm đối với thị trường xe hơi của Malaysia đã khiến cho nước này đứng trước những yêu sách đòi bồi thường thiệt hại do tiệu thụ xe hơi chậm của các nước láng giềng.
Ví dụ: Thái Lan đòi Malaysia phải mua thêm gạo của Thái Lan và phải cho phép Thái Lan được hưởng thêm một số uư đãi thương mại khác. Hoặc indonexia cho rằng họ có đủ tiền năng cung cấp xe hơi cho Malaysia, nhưng do thuế suất quá cao (80%) nên Malaysia phải bồi thường cho việc kinh doanh mặt hàng này của indonexia bị cản trở.
Tuy nhiên chứng minh điều này không phải là dễ dàng đối với indonexia, vì cho đến năm 2001 vẫn chưa có 1 hàng sản xuất ô tô mang tầm cờ quốc gia ở indonexia và nước này chủ yếu sản xuất xe hơi chỉ dề đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Tại Hội nghị Bộ trường Thương mại và Công nghiệp các nước ASEAN tại Yanggon – Myanmar (giữa tháng 5/2000), các nước đã thống nhất cho phép Malaysia kéo dài thêm 2 năm thời hạn giảm thuế NK đối với ô tô (đến năm 2004 thuế NK đối với ô tô của Malaysia mới giảm xuống 20%); có nghĩa là Malaysia có thể duy trì mức thuế 80% đồi với ô tô và các phục tùng ô tô NK đến hết năm 2004.
Rõ ràng đây là một ngoại lệ. Sở dĩ có ưu tiên này là vì trong ngành chế tạo ô tô của các nước thuộc ASEAN chỉ có hàng Proton của Malaysia là tự thiết kế và chế tạo sản phẩm. Khi các nước trong khu vực xảy ra khủng hoảng, ngành này bị các hãng ô- tô của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Malaysia cạnh tranh gay gằt.
Vì mục tiêu chung của cả khối là phải tạo ra những sản phẩm đặc trưng ASEAN có đủ khả năng cạnh tranh với các tổ chức khu vực khác, các nước trong khối cần đồng lòng bảo vệ và thể hiện điều đó là uư tiên cho Malaysia phát triển ngành công nghiệp ô-tô của mình.
Link load: You can see links before reply
Phiên đàm phán đa phương lần thứ 5 (tháng 4/2002) và thứ 6 (tháng 6/2003) được tiến hành với nội dung chính là mở cửa thị trường. Việt Nam đã cung cấp cho ban thư ký WTO những tài liệu có liên quan đến vấn đề mở cửa thị trường như:
+ Bản tóm tắt về hiện trạng chính sách kinh tế thương mại.
+ Chính sách hỗ trợ trong nước và trợ cấp XK nông nghiệp.
+ Chính sách hỗ trợ SP công nghiệp.
+ Hiện trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước.
+ Chương trình hành động thực hiện TRIMS.
+ Thực hiện hiệp định trị giá hải quan.
Phiên đàm phán đa phương lần thứ 7 (tháng 2/2003) và lần thứ 8 (tháng 6/2004) chuyển sang giai đoạn bàn đến “Bản dự thảo báo cáo gia nhập WTO” của VN.
Tại phiên đàm phán thứ 8, VN đã cam kết tuân thủ các quy định, nghĩa vụ của WTO:
+ Trước hết là tuân thủ quy chế tối huệ quốc, thực hiện nghĩa vụ MFN đối với thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ.
+ Cam kết thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp, nhà đầu tư…trong và ngoài nước.
+ Bỏ trợ cấp XK đối với cà phê, hạ mức thuế quan chung tới mức các đối tác có thể chấp nhận được.
+ Phiên đàm phán thứ 11 ( 16/1/2006) VN đã cam kết “Mở cửa” đối với 10 ngành và 92 phân ngành dịch vụ (trên tổng số 150 phân ngành) theo phân loại của WTO; trong đó có các dịch vụ về ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm, viễn thông, phân phối, vận tải biển… các cam kết này bằng cao hơn cam kết trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ.
+ Về chương trình hành động lập pháp: VN đã đưa ra danh mục sửa đổi, bổ sung và ban hành 36 văn bản, bao gồm luật và pháp lệnh có liên qua đến quá trình gia nhập WTO như luật thương mại, luật đầu tư chung, luật doanh nghiệp thống nhất…
Sau nhiều phiên đàm phán đa phương và song phương, ngày 15/9/2005 phiên đàm phán đa phương thứ 10 được thực hiện tại Genève (Thụy Sĩ). Đây là phiên đàm phán có tính chất quyết định đến việc gia nhập WTO của VN vì ta cam kết mở cửa 10 nhóm ngành dịch vụ và 92 dịch vụ cụ thể; đồng thời bản chào hàng hóa của VN đã đạt mức cam kết sửa đổi 99.3% số dòng thuế, bình quân mức thuế cam kết đạt dưới 18% (một số mặt hàng công nghiệp còn ở mức thấp hơn nữa); các loại phí và lệ phí đã gần như bằng 0…
Phiên đàm phán thứ 11 (Ngày 16 đến 17/1/2006): ngoài vấn đề giảm thuế đối với một số mặt hàng, nhiều thành viên của WTO yêu cầu chính phủ không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, các quyết định mua/bán và đầu tư của DNNN phải tuân theo yêu cầu thị trường. Danh mục nhà nước độc quyền phải được làm rõ và thu hẹp dần. Xóa bỏ các hỗ trợ tín dụng, trong đó có những khoản cho vay theo định hướng.
Nhìn chung trong tiến trình đàm phán để gia nhập WTO, VN đã đưa ra những cam kết dựa trên nguyên tắc bình đẳng, phú hợp với điều kiện phát triển của VN và thông lộ quốc tế (Theo quy định của WTO trong tiến trình theo đuổi mục đích tự do hóa thương mại, các cam kết cụ thể của các nước thành viên phải được đưa ra thực hiện dưới hình thức nhượng bộ về thuế quan). Vì thế lộ trình giảm thuế và rào cản phi thuế đã được VN cam kết và thực hiện tốt. Chẳng hạn:
+ Tại hội thảo “Hội nhập của các nước Đông dưong vào môi trường thương mại toàn cầu” ngày 7 – 8/10/1999 tổ chức ở TP.HCM VN đã đưa ra cam kết sẽ cắt giảm thuế quan theo lịch trình với các nước thành viên trên cơ sở có đi có lại.
+ Cam kết lấy thuế quan làm công cụ bảo hộ chủ yếu và chỉ bảo hộ đối với những mặt hàng nhạy cảm, có ảnh hưởng lớn đến đời sóng kinh tế đất nước, dần dần áp dụng các biện pháp tính thuế hải quan phù hợp với qui định của WTO.
Mức thuế suất thuế NK tối đa từ 200% được hạ xuống còn 60% và từ 31 mức thuế quan giảm xuống còn 25 mức; bỏ áp dụng mức giá tối thiểu đối với tất cả dcác mặt hàng NK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài…
Đến phiên đàm phán thứ 11 chúng ta đã cam kết ràng buộc mức trần cho gần như 100% dòng thuế. Nhìn chung các nước WTO đều cho rằng thuế suất trên 15% là cao và trên 30% là rất cao. Nhiều nước còn yêu cầu VN phải giảm thuế cho những mặt hàng mà họ có lợi thế đến mức còn 0-5%(có những mặt hàng rất nhạy cảm với VN như thịt bò chẳng hạn).
+ Đã xây dựng và điều chỉnh hệ thống thuế XNK và phân biệt rõ những mức thuế Ưu đãi, Ưu đãi đặc biệt và thuế phổ thông đối với hàng NK.
+ Xây dựng lộ trình cắt giảm các biện pháp phi thuế quan gây trở ngại cho thương mại.
Nới lỏng các biện pháp quản lý XNK (bỏ quản lý bằng giấy phép NK đối với hàng tiêu dùng, bỏ giấy phép NK chuyến, bỏ yêu cầu phải xin giấy phép XNK trực tiếp khi doanh nghiệp XK những mặt hàng phù hợp với lĩnh vực kinh doanh đã trong giấy phép kinh doanh…)
Ngày 1/2/1999 VN đã loại bỏ thêm 9 nhóm mặt hàng ra khỏi danh mục Hàng NK quản lý bằng hạn ngạch NK gồm : xút lỏng, hàng tiêu dùng bằng sành sứ thuỷ tinh, bao bì nhựa thành phẩm, chất dẻo DOP, gạch ốp lát, đồ sứ vệ sinh, quạt điện, xe đạp và dầu thực vật.
+ Trong kế hoạch hội nhập vào nền kinh tế thế giới, VN sẽ đưa thêm 10 mặt hàng khác ra khỏi danh mục Hạn chế NK trong thời gian từ năm 2000 đến năm 2007:
Phân bón thực hiện vào đầu năm 2001.
Kính xây dựng, rượu, ôtô, xe máy: được thực hiện vào đầu năm 2002.
Xi măng đươc thực hiện vào đầu năm 2003.
Xăng dầu thực thiện vào đầu năm 2005.
Đường ăn thực hiện vào đầu năm 2007
+ Thực hiện nới lỏng việc CP tham gia vào hoạt động thương mại quốc tế như:
Phân bổ hạn ngạch NK phân bón , hạn ngạch XK gạo cho các doanh nghiệp trong và quốc doanh có đủ điều kiện.
Doanh nghiệp trong nước thành lập hợp pháp đều được phép XK hàng hoá phù hợp với lĩnh vực đã ghi trong Giấy phép kinh doanh.
Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được phép XK các mặt hàng nào không thuộc diện quản lý…
Hệ thống cấp giấy phép được đơn giản hoá, thay thế bằng yêu cấu đăng ký với hải quan tỉnh, TP để được cấp mã số đăng ký hải quan…
3. Những thuận lợi khi tham gia WTO :
Khi tham gia WTO, VN phải có nghĩa vụ tuân theo những qui định của tổ chức này, nhưng cũng sẽ có nhiều thuận lợi như :
- Có điều kiện đẩy mạnh thương mại với các nước thành viên vì WTO cũng có những ưu đãi riêng chi những nước đang phát triển. Chẳng hạn VN là một nước nghèo, có thu nhập bình quân đầu người thấp (dưới 1000USD/năm) sẽ được miễn trừ sự ngăn cấm XK.
- Có nhiều cơ hội mở rộng thị trường XK; chẳng hạn VN XK gạo (là mặt hàng XK chủ lực của VN ) sang thị trường các nước đang phát triển sẽ không chịu hạn chế về số lượng mà chỉ chịu hàng rào thuế; mà thuế sẽ được cắt giảm theo hiệp định của WTO.
- Nâng cao vị thế của VN, từ đó tạo sự hấp dẫn cho môi trường đầu tư, thu hút các nhà đầu tư nước ngoài hơn nữa.
- Tư cách thành viên WTO sẽ giúp cho các lĩnh vực có tiềm năng lớn của VN như hàng nông sản, dệt may vươn rộng tầm hoat động ra thị trường thế giới và khu vực.
- Cải thiện được hệ thống giải quyết tranh chấp với các cường quốc thương mại chính, vì các nước thành viên sẽ được tiếp cận với các quy tắc công bằng và sẽ đạt hiệu quả cao hơn khi giải quyết các tranh chấp thương mại.
4. Những thách thức khi VN gia nhập WTO:
WTO quy định khi tham gia, nước thành viên phải có nghĩa vụ thực hiện những yêu cầu sau:
- Tạo điều kiện mở cửa thị trường cho các nước thành viên WTO bằng cách giảm thuế nhập khầu cho cả hàng nông nghiệp và công nghiệp (điều này được coi như một cam kết ràng buộc).
- Phải mở cửa thị trường dịch vụ cho các nhà cung cấp nước ngoài như các dịch vụ về ngân hàng, bảo hiểm, vận tải, thông tin, kỹ thuật…
Như vậy, những chủ tướng cấp đôvĩ mô phải được xác định sao cho phù hợp với tình hình thực tế của VN. Vì thế trước mắt phải hoàn thiện về cơ chế¬- chính sách ngoại thương vì hệ thống luật và cơ chế ngoại thương hiện chưa ổn định, có chỗ còn chưa rõ ràng.
Ngoài ra nhà hoạch định chính sách phải lượng hoá được lợi ích và thách thức khi tham gia vào WTO, vì WTO không bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ cam kết của WTO mà các quốc gia có thể chọn lựa, đàm phán…đề có những nhượng bộ chấp nhận được.
Trong quá trình thực hiện cam kết quốc tế và khu vực, VN đã xem xét và phân lộ trình hội ra thành 3 loại:
(1). Lộ trình ngắn, tích cực: bãi bỏ các biện pháp phi thuế quan đồng thời qui đổi các mức thuế theo qui định thời gian khoảng 3-4 năm.
(2). Lộ trình trung bình: giảm hàng rào bảo hộ trong khoảng thời gian 6-7 năm, để các ngành chưa đủ sức mạnh cạnh tranh (nếu hội nhập trong thời gian ngắn có thể sẽ gây nên phản ứng xã hội lớn) vươn lên chiếm lĩnh thị trường.
(3). Lộ trình dài: giảm hàng rào bảo hộ áp dụng cho những lĩnh vực nhạy cảm khoảng 7-10 năm.
Ngoài ra các ngành kinh tế của VN còn được chia thành 3 nhóm để có chính sách bảo hộ hợp lý trong quá trình hội nhập:
Nhóm 1: Những ngành không cần phải bảo hộ, đó là những ngành đang có khả năng cạnh tranh cao hoặc không có khả năng cạnh tranh nhưng không quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, nếu bị phá sản cũng không gây ảnh hưởng lớn đến các vấn đề xã hội.
Nhóm 2: Hiện không co khả năng cạnh tranh, nhưng có vị trí quan trọng đối với nền kinh tế quốc gia. Các xí nghiệp thuộc những ngành này nếu bị giải thể hoặc phá sản do không đủ sức mạnh cạnh tranh sẽ gây xáo trộn trong hoạt động xã hội : cần phải được bảo hộ nhưng có điều kiện và có thời hạn nhất định.
Nhóm 3: Những ngành có tầm quan trọng thiết yếu với nền kinh tế quốc gia; các xí nghiệp thuộc những ngành náy nếu bị giải thể hoặc phá sản không đủ sức cạnh tranh sẽ gây nên ảnh hưởng to lớn cho xã hội sẽ phải được bảo hộ lâu dài, không thể mở cửa thị trường.
Khi gia nhập WTO VN phải chấp nhận những thách đố:
- Nhiều thành viên của tổ chức này đã đi trước VN 50 năm trên bước đường tự do hoá thương mại, do đó vị thế cạnh tranh của họ rất vững chắc.
Trong thời gian giảm thuế để tham gia vào các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, nhà nước vẫn thực hiện các chính sách bảo hộ cho các doanh nghiệp, nhưng có điều kiện và thời hạn. Vì vậy khi phải giảm thuế và áp dung chế độ MFN trong lúc hàng hoá của VN chưa đủ mạnh về chất lượng, sẽ khiến cho các nhà sản xuất VN phải chấp nhận rơi vào vòng cạnh tranh gay gắt hơn trong nền KT thị trường, trong khi hàng hoá chưa thực sự đứng vững trên thị trường thế giới.
Tuy nhiên, cũng cần chú ý đến cảnh báo của ông Supachai (Tổng giám đốc của WTO): không phải tất cả các nước đang phát triển đều có thực hiện các điều khoản củathoả thuận thương mại với cùng một nhịp độ; mà một số nước không thể huỷ bỏ trợ giá hay tang chỉ tiêu NK đúng theo thời hạn qui định của thoả thuận.
Hội nghị Bộ trưởng KT các nước ASEAN ngày 1/5/2000 tại Myanmar đã quyết định thực hiện chương trình ưu đãi thuế quan chung của ASEAN đối với các sản phẩm xe hơi của Malaysia đến đầu năm 2005. Đây là biện pháp nhằm giúp ngành này của Malaysia phục hồi và phát triển sau khủng hoảng, theo thoả thuận được ký kết giữa các bên; thuế đánh vào các sản phẩm ôtô của Malaysia NK vào các nước thành viên ASEAN sẽ giảm từ 80% xuống còn 20%.
Bản thân Malaysia cũng đề nghị được lùi thời hạn cat91 giảm thuế quan đối với ôtô và một số mặt hàng nông phẩm trong tiến trình hình thành AFTA đến tháng 1/2005 với lý do các ngành này chưa hồi phục sau cuộc khủng hoảng KT vừa qua. Tuy nhiên một số nhà phân tích KT cho rằng, đề nghị này xuất phát từ tư tưởng bảo hộ hãng Proton ( hãng sản xuất ôtô quốc doanh của Malaysia) trước sự cạnh tranh của các nước láng giềng , đặc biệt là của Thái Lan – nơi hội tụ các nhà sản xuất ôtô lớn nhất thế giới (như Mỹ, Nhật Bản, Châu Âu).
Việc lùi thời hạn hội nhập 2 năm đối với thị trường xe hơi của Malaysia đã khiến cho nước này đứng trước những yêu sách đòi bồi thường thiệt hại do tiệu thụ xe hơi chậm của các nước láng giềng.
Ví dụ: Thái Lan đòi Malaysia phải mua thêm gạo của Thái Lan và phải cho phép Thái Lan được hưởng thêm một số uư đãi thương mại khác. Hoặc indonexia cho rằng họ có đủ tiền năng cung cấp xe hơi cho Malaysia, nhưng do thuế suất quá cao (80%) nên Malaysia phải bồi thường cho việc kinh doanh mặt hàng này của indonexia bị cản trở.
Tuy nhiên chứng minh điều này không phải là dễ dàng đối với indonexia, vì cho đến năm 2001 vẫn chưa có 1 hàng sản xuất ô tô mang tầm cờ quốc gia ở indonexia và nước này chủ yếu sản xuất xe hơi chỉ dề đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Tại Hội nghị Bộ trường Thương mại và Công nghiệp các nước ASEAN tại Yanggon – Myanmar (giữa tháng 5/2000), các nước đã thống nhất cho phép Malaysia kéo dài thêm 2 năm thời hạn giảm thuế NK đối với ô tô (đến năm 2004 thuế NK đối với ô tô của Malaysia mới giảm xuống 20%); có nghĩa là Malaysia có thể duy trì mức thuế 80% đồi với ô tô và các phục tùng ô tô NK đến hết năm 2004.
Rõ ràng đây là một ngoại lệ. Sở dĩ có ưu tiên này là vì trong ngành chế tạo ô tô của các nước thuộc ASEAN chỉ có hàng Proton của Malaysia là tự thiết kế và chế tạo sản phẩm. Khi các nước trong khu vực xảy ra khủng hoảng, ngành này bị các hãng ô- tô của nước ngoài thâm nhập vào thị trường Malaysia cạnh tranh gay gằt.
Vì mục tiêu chung của cả khối là phải tạo ra những sản phẩm đặc trưng ASEAN có đủ khả năng cạnh tranh với các tổ chức khu vực khác, các nước trong khối cần đồng lòng bảo vệ và thể hiện điều đó là uư tiên cho Malaysia phát triển ngành công nghiệp ô-tô của mình.
Link load: You can see links before reply